Kiến thức phòng bệnh, chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe. Các thông tin về sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Các bài thuốc dân gian quý hiếm.
Thông tin sức khỏe

Tìm hiểu về bệnh cao cholesterol: Triệu chứng và phân loại cao mỡ máu

Share Button

Bệnh cao cholesterol sẽ đưa đến biến chứng của nhiều bệnh, trong đó có bệnh tim mạch. Do đó, bệnh cao mỡ máu rất nguy hiểm và người bệnh cần điều trị tích cực

Nhiều người cho rằng cholesterol gây ảnh hưởng nguy hiểm cho cơ thể. Nhưng trên thực tế, cholesterol đóng vai trò hết sức quan trọng…

Cholesterol là gì?

Cholesterol là một hợp chất rất quan trọng đối với hoạt động sống của cơ thể, nó có thể là bạn và có thể là kẻ thù của con người.

Cholesterol là một hợp chất không thể thay thế, đóng vai trò trung tâm xây dựng màng tế bào, hoocmon sinh dục và thúc đẩy quá trình tiêu hóa nhưng nó cũng là một nguyên nhân gây thiếu máu cơ tim (bệnh mạch vành).

Cholesterol trong máu được cung cấp bằng hai nguồn: từ thức ăn và được tổng hợp từ tế bào gan. Các thức ăn có chứa nhiều cholesterol như mỡ động vật, trứng, bơ, phomat, gan.

Có mấy dạng cholesterol?

Trong gan, cholesterol kết hợp với protein tạo ra hai dạng cholesterol là LDL (lipoprotein có trọng lượng phân tử thấp) và HDL (lipoprotein có trọng lượng phân tử cao), và được vận chuyển vào dòng máu.

HDL mang ít cholesterol nên có thể kết hợp với cholesterol tự do trong máu và vận chuyển về gan để xử lý, vì vậy nếu hàm lượng của HDL trong máu càng cao thì càng giảm nguy cơ mắc bệnh mạch vành. Người có hàm lượng HDL trong máu cao hơn 60mg/dl là ngưỡng an toàn đối với bệnh tim mạch, thấp hơn 40mg/dl là có nguy cơ mắc bệnh cao.

Ngược lại, LDL chứa nhiều cholesterol và khởi xướng sự hình thành các mảng xơ vữa trên thành các động mạch nói chung và các động mạch vành tim nói riêng (trạng thái này gọi là xơ vữa động mạch).

Các mảng xơ vữa này gây hẹp hay tắc lòng mạch máu nuôi dưỡng cơ tim gây ra các cơn đau tim. Hàm lượng LDL càng cao thì nguy cơ mắc bệnh mạch vành càng cao.

Mặc dù hàm lượng LDL và HDL là những chỉ số tốt nhất để dự đoán nguy cơ mắc bệnh mạch vành, nhưng xác định hàm lượng cholesterol toàn phần trong máu cũng rất quan trọng để dự đoán nguy cơ bị bệnh mạch vành. Nếu một người có hàm lượng cholesterol toàn phần trong máu thấp hơn 200mg/dl thì ít có nguy cơ mắc bệnh mạch vành, nhưng nếu cao hơn 240mg/dl thì có nguy cơ mắc bệnh cao.

chứng cao cholesterol 1

Kiểm soát lượng cholesterol

Biện pháp hữu hiệu nhất để giảm hàm lượng LDL, tăng HDL và giảm cholesterol máu toàn phần là thay đổi chế độ ăn và tăng cường tập thể dục thể thao. Cần giảm lượng chất béo sử dụng chung, đặc biệt là giảm lượng chất béo no chứa trong mỡ động vật.

Để đạt được điều này nên: hạn chế sử dụng các loại thịt, cá xuống còn 150-200g mỗi ngày. Nên sử dụng thịt thăn, thịt bắp không dính mỡ. Loại tất cả những phần mỡ nhìn thấy trước khi chế biến và lượng mỡ được tạo ra trong quá trình đun nấu. Không ăn da, đầu, cổ, cánh của các loại gia cầm như: gà, ngan, vịt. Hạn chế ăn lưỡi, tim, gan, lợn. Dùng dầu thực vật để chế biến thức ăn, nhưng cũng phải hạn chế.

Theo tính toán, nếu giảm lượng cholesterol trong khẩu phần ăn hàng ngày đi 1% sẽ giảm được 2% nguy cơ mắc bệnh mạch vành.

Trong nhiều công trình nghiên cứu, các nhà khoa học ở Mỹ và Nga đã chứng minh rằng, có thể kềm chế và làm thoái lui sự phát triển xơ vữa động mạch ở các bệnh nhân tim mạch nói chung và bệnh nhân mạch vành nói riêng bằng việc thực hiện các bài tập rèn sức bền như: đi bộ nhanh, chạy việt dã, bơi, đạp xe đạp, đặc biệt là đi bộ nhanh 5-7 buổi/tuần, mỗi buổi 40-60 phút hay chạy việt dã 2-3 buổi/tuần, mỗi buổi 20-40 phút có tác dụng tốt đối việc điều hòa lượng cholesterol máu sau 3-6 tháng tập luyện.

Tóm lại, cholesterol là một chất rất cần thiết cho cơ thể, tuy nhiên mỗi người cần phải biết kiểm soát hàm lượng cholesterol máu của mình, kiểm tra và điều chỉnh bằng chế độ dinh dưỡng khoa học kết hợp với tăng cường tập luyện thể dục thể thao rèn luyện sức khỏe.

Những loại mỡ cholesterol

Khi đi thử máu, phòng thử nghiệm sẽ đo lượng cholesterol tổng cộng, lượng cholesterol HDL (mỡ tốt), và lượng Triglycerides. Từ đó họ sẽ tính ra lượng cholesterol (LDL) xấu. Phòng thí nghiệm máu có thể đo lượng cholesterol LDL xấu nhưng ít khi bác sĩ cần đo như vậy.

Cholesterol LDL xấu vì nó làm nghẽn những mạch máu dẫn đến bệnh. Cholesterol HDL tốt vì nó giúp cholesterol xấu ra khỏi mạch máu và làm mạch máu bớt bị nghẽn.

Cao lượng cholesterol sẽ dẫn đến triệu chứng gì?

Lượng Cholesterol cao sẽ không gây ra triệu chứng gì cả nhưng cao cholesterol sẽ đưa đến những biến chứng làm ra triệu chứng bệnh. Nhiều bệnh nhân nghĩ rằng cao lượng Cholesterol sẽ gây ra nhức đầu, mệt mỏi, khó chịu trong người. Những điều này không đúng.

Nếu chúng ta bị cao lượng Cholesterol nhưng chưa bị tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, nghẽn mạch máu chân, v.v… thì sẽ không có triệu chứng gì cả tuy nhiên một khi bị rồi thì thường hay quá trễ. Một trường hợp ngoại lệ là những bệnh nhân có lượng Triglyceride trên 1.000 (ngàn) thì dễ bị sưng tụy tạng (acute pancreatitis).

Tại sao ta phải trị bệnh cao cholesterol?

Như đã đề cập ở trên, lượng Cholesterol cao trong máu sẽ dễ dẫn đến những bệnh tim mạch như nghẽn mạch vành tim, nhồi máu cơ tim (Coronary Heart Disease), tai biến mạch máu não, nghẽn mạch chân. Vì vậy, làm giảm lượng Cholesterol trong máu sẽ giúp bệnh nhân tránh hay ít bị những bệnh này.

Bệnh nhân có phải uống thuốc giảm cholesterol suốt đời hay không?

Vì gan là bộ phận chế tạo Cholesterol trong người của chúng ta, nếu không có thuốc mỗi ngày thì lượng Cholesterol sẽ từ từ tăng lên. Vì vậy chúng ta phải uống thuốc giảm Cholesterol mãi mãi. Thế nhưng những bệnh nhân chịu tập thể dục thường xuyên và cữ ăn theo đúng tiêu chuẩn để lượng Cholesterol thấp xuống thì có hy vọng bỏ thuốc được. Có nhiều bệnh nhân bỏ uống thuốc sau khi đã dùng vài tháng vì họ đo lại lượng Cholesterol và thấy xuống thấp. Ðiều này rất sai lầm vì chỉ trong một thời gian ngắn thì lượng Cholesterol của họ sẽ bị lên cao trở lại.

Làm thế nào để tránh bị bệnh cao cholesterol?

Vì cholesterol có trong đồ ăn có nguồn gốc động vật, chúng ta phải ăn ít những loại đồ ăn như mỡ, thịt, trứng. Nếu uống sữa tươi thì dùng loại low fat hay nonfat. Vì dầu là loại mỡ có nguồn gốc thực vật và giúp cho cơ thể chế tạo ra nhiều cholesterol, nên chúng ta cần nên ăn ít những loại dầu. Những loại dầu dừa hay đậu phộng hay vegetables làm nghẽn mạch máu nhiều hơn dầu granola hay dầu olive. Chúng ta nên ăn ít lại nếu bị nặng cân hay bị mập vì giảm cân thì cholesterol cũng giảm.

Chúng ta cũng đừng quên tập thể dục vì thể dục cũng giúp giảm lượng cholesterol LDL xấu và làm tăng lượng cholesterol HDL tốt.

Có khám phá mới gì trong vấn đề trị bệnh Cholesterol gần đây hay không?

Gần đây bác sĩ đã nghiên cứu được rằng những người đã có bệnh nghẽn mạch vành tim, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, hay bệnh tiểu đường thì cần có lượng Cholesterol thấp hơn những bệnh nhân khác. Vì thế, những bệnh nhân này nên để ý đến lượng Cholesterol và sức khỏe của mình kỹ hơn.

Vậy lượng Cholesterol bao nhiêu mới được xem là tốt?

Khi bác sĩ nói đến Cholesterol của bệnh nhân, họ thường đề cập đến lượng Cholesterol tổng cộng (total Cholesterol). Con số được coi là “trung bình” nằm vào khoảng 200. Nếu thấp hơn 200 thì được xem là “tốt”. Nếu nằm trong khoảng 200 đến 240 thì được xem là “hơi cao” hay borderline. Và nếu trên 240 thì xem là cao nhiều. Tuy nhiên, lượng Cholesterol tổng cộng gồm có Cholesterol xấu LDL, Cholesterol tốt HDL, một phần của mỡ Triglyceride.

Phòng thí nghiệm máu thường chỉ đo lượng Cholesterol tổng cộng, Cholesterol HDL, lượng Triglyceride và từ đó họ tính ra lượng Cholesterol LDL. Vì vậy, dùng số lượng Cholesterol cá nhân LDL, HDL, và lượng Triglyceride sẽ chính xác hơn.

Chương trình Quốc Huấn (National Cholesterol Education Program) khuyên ta nên đo Cholesterol tổng cộng, lượng Triglyceride và Cholesterol tốt HDL ít nhất 5 năm một lần. Bệnh nhân cần nhịn ăn sáng trước khi thử. Bắt đầu từ tuổi 20 bệnh nhân cần thử ít nhất một lần mỗi 5 năm. Nếu lượng cholesterol bị cao thì cần thử lại thường hơn.

Làm gì khi nồng độ cholesterol trong máu cao?

Nếu nồng độ cholesterol trong máu lớn hơn 200 mg/dl, hãy làm tiếp xét nghiệm về thành phần cholesterol máu. Nếu xét nghiệm tiếp theo cho thấy nồng độ HDL cao, còn nồng độ LDL bình thường hay thấp thì chưa có vấn đề gì nghiêm trọng, cứ tiếp tục ăn uống, sinh hoạt, làm việc bình thường. Bạn đang có “sức khỏe cholesterol” rất tốt.

Trong trường hợp xét nghiệm tiếp theo cho thấy nồng độ LDL cao thì cũng chưa cần dùng thuốc ngay. Bước đầu tiên trong điều chỉnh cholesterol cao là thay đổi lối sống. Hãy tập thể dục, gia tăng các hoạt động như đi xe đạp, đi bộ (nên tận dụng mọi cơ hội đi bộ), tránh ăn uống thực phẩm có nhiều cholesterol, bỏ hẳn thuốc lá và rượu mạnh, riêng bia có thể dùng mỗi ngày một lon 330ml, hay một ly rượu chát 100ml.

Cứ sau ba tháng, sáu tháng, một năm thì kiểm tra xem cholesterol LDL đã về bình thường chưa. Nếu khi kiểm tra lại thấy nồng độ cholesterol LDL vẫn cao, vẫn phải tiếp tục chương trình thay đổi lối sống và đến bác sĩ chuyên khoa tim mạch hay nội tiết để có chế độ dùng thuốc thích hợp.

Có nên dùng thuốc hạ cholesterol máu?

Thuốc men nói chung và thuốc hạ cholesterol trong máu nói riêng ngoài lợi ích đều có thể có ít nhiều tác hại. Những thuốc hạ cholesterol máu có một số tác động có hại đối với gan, với cơ bắp… mà chúng ta phải cẩn thận theo dõi trong suốt quá trình uống thuốc.

Cần biết rằng việc dùng thuốc làm hạ cholesterol máu có mục tiêu quan trọng nhất là dự phòng (hay nói đúng hơn là làm trì hoãn) các biến cố ở tim, não mà cholesterol máu cao gây ra. Có ba yếu tố tạo ra nguy cơ bệnh tim mạch thường gặp là cholesterol trong máu cao, tiểu đường và cao huyết áp. Theo Genest, J. và cộng sự, yếu tố nguy cơ của cholesterol máu cao trên bệnh tim mạch sẽ tăng lên khi có thêm những yếu tố nguy cơ khác.

Nếu chỉ có cholesterol máu cao thì nguy cơ bệnh tim mạch là 1,3. Khi vừa có cholesterol máu cao vừa bị tiểu đường thì nguy cơ bệnh tim mạch là 2,3; và khi có cả ba thứ thì nguy cơ bệnh tim mạch là 4,5. Nghĩa là, nếu chỉ bị cholesterol máu cao, việc dùng thuốc hạ cholesterol máu cần cân nhắc. Còn nếu ai bị mắc cả ba yếu tố (cholesterol máu cao, tiểu đường, cao huyết áp) thì việc điều trị không chỉ là uống thuốc hạ cholesterol nữa rồi.

Cholesterol: Một thủ phạm của bệnh tim mạch

Cholesterol là thành phần cấu tạo chủ yếu của màng tế bào, sợi thần kinh và nhiều nội tiết tố trong cơ thể. Trong quá trình tiêu hóa thức ăn, gan cũng phải dùng cholesterol sản xuất ra mật phục vụ hoạt động tiêu hóa. Có thể nói cơ thể con người không thể tồn tại nếu không có cholesterol. Nhưng chính sự gia tăng quá mức của cholesterol trong máu lại là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến bệnh tim mạch và nhiều bệnh mạn tính nguy hiểm khác.

Cholesterol từ đâu mà có?

Cholesterol có hai nguồn gốc chính: Từ thức ăn hằng ngày có trong thịt mỡ, trứng, bơ, pho mát… chiếm 20% nhu cầu cholesterol trong cơ thể. Bên cạnh đó, cholesterol do gan tạo ra chiếm 80%. Gan có khả năng tổng hợp cholesterol từ những chất khác như đường, đạm.

Cholesterol được mang đi trong máu nhờ kết hợp với một chất có tên là lipoprotein. Có nhiều loại lipoprotein, trong đó có 2 loại chính mà cholesterol kết hợp, gây ra tác dụng trái ngược nhau: loại có trọng lượng phân tử cao viết tắt là HDL (high density lipoprotein), loại này khi kết hợp với cholesterol (HDL-C) giúp cơ thể chống lại quá trình xơ vữa động mạch, nên được gọi là cholesterol tốt; ngược lại loại có trọng lượng phân tử thấp, viết tắt là LDL (low density lipoprotein), loại này kết hợp với cholesterol (LDL-C) tạo thành cholesterol xấu, gây ra xơ vữa động mạch.

Mối liên quan giữa tăng cholesterol và bệnh tim mạch

Nồng độ cholesterol trong máu cao là nguyên nhân chủ yếu của quá trình vữa xơ động mạch và dần dần làm hẹp các động mạch cung cấp máu cho tim và các cơ quan khác của cơ thể. Khi động mạch vành bị hẹp sẽ làm giảm dòng máu tới nuôi cơ tim gây ra cơn đau thắt ngực, thậm chí nhồi máu cơ tim.

Hầu hết lượng cholesterol toàn phần trong máu tạo ra LDL-C là loại cholesterol có hại. Chỉ có một lượng nhỏ cholesterol tạo ra HDL-C là loại cholesterol có ích, có tác dụng bảo vệ chống lại bệnh vữa xơ động mạch. Nguy cơ bị bệnh động mạch vành và các bệnh lý tim mạch khác càng tăng cao hơn nếu bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ khác đi kèm như hút thuốc lá, tăng huyết áp, đái tháo đường, thói quen ít vận động và thừa cân.

Mỡ trong máu tồn tại dưới hai dạng chính là cholesterol và triglycerid, vì vậy khi kiểm soát mỡ máu cần phải đánh giá đầy đủ những yếu tố: cholesterol toàn phần, LDL-C, HDL-C, triglycerid.

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng nếu kiểm soát được các yếu tố này trong những giới hạn sau đây thì sẽ phòng ngừa rất hữu hiệu bệnh xơ vữa động mạch: Cholesterol toàn phần dưới 200mg/100ml; LDL-C dưới 130mg/100ml; HDL-C trên 45mg/100ml; triglycerid trong khoảng 150-200mg/100ml. Giảm cholesterol trong máu cũng có thể gọi là giảm mỡ máu vì không chỉ có cholesterol trong máu mà cả triglycerid cũng cần phải giảm.

Nếu kết quả xét nghiệm cholesterol toàn phần dưới 200mg/100ml thì hoàn toàn bình thường, nguy cơ mắc bệnh tim mạch ít, có thể ăn uống và sinh hoạt bình thường, nhưng cần phải kiểm tra lại ít nhất 2 năm/lần đối với người còn trẻ tuổi (dưới 40). đối với những người cao tuổi, thừa cân, tăng huyết áp hay bệnh mạn tính nào khác thì kiểm tra 6 tháng/lần.

Nếu cholesterol toàn phần ở mức từ 200 – 240mg/100ml là bắt đầu có dấu hiệu cao, những nguy cơ mắc bệnh xơ vữa động mạch đã có, nhưng cần phải làm thêm xét nghiệm LDL-C và HDL-C, đường máu, đo huyết áp… để đánh giá chính xác mức độ tiềm tàng của bệnh.

Nếu cholesterol từ 240mg/100ml trở lên thì có biểu hiện tăng cholesterol rõ rệt, có nguy cơ cao của bệnh xơ vữa động mạch, cũng cần phải đánh giá thêm các yếu tố như LDL-C, HDL-C, huyết áp, đường máu để có những biện pháp xử trí kịp thời.

chứng cao cholesterol 2

Điều trị và kiểm soát cholesterol là mục tiêu phòng ngừa tốt bệnh tim mạch

Các thuốc giảm cholesterol máu rất có hiệu quả trong việc giảm nguy cơ tái phát bệnh động mạch vành, bao gồm 5 nhóm chủ yếu:

– Nhóm thuốc statin ngăn chặn tổng hợp cholesterol tại gan bằng cách ức chế cạnh tranh hoạt động của men HMG-CoA reductase, làm giảm tổng hợp cholesterol ở toàn bộ cơ thể;

– Thuốc gắn acid mật (resin) làm tăng gắn cholesterol với acid mật, do vậy thuốc làm tăng thải cholesterol qua đường mật;

– Thuốc ức chế ly giải lipid (nicotinic acid); làm giảm sự di chuyển acid béo tự do từ các tổ chức mỡ, do vậy gan sẽ có ít nguyên liệu để tổng hợp ra cholesterol;

– Nhóm thuốc fibrat làm tăng ly giải lipid ở ngoại biên và giảm sản xuất triglycerid ở gan;

– Thuốc ức chế hấp thu cholesterol (ezetimibe) có tác dụng ức chế hấp thu cholesterol một cách có chọn lọc ở ruột non.

Thay đổi lối sống là biện pháp quan trọng giảm cholesterol có hại và phòng ngừa bệnh tim mạch. Đó là hạn chế ăn những thức ăn làm tăng cholesterol.

Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, người bình thường không nên ăn quá 300mg cholesterol mỗi ngày. Đối với những người có nguy cơ cao như người cao tuổi, gia đình từng có người bị xơ vữa động mạch, tăng huyết áp… thì lượng cholesterol ăn vào phải hạn chế hơn nữa, chỉ 200mg, thậm chí là 100mg mỗi ngày.

Những thức ăn làm tăng cholesterol xấu là những thứ có nhiều acid béo bão hòa như dầu cọ, dầu dừa, mỡ bò, pho mát, bơ, kem, đường… vì vậy hạn chế tối đa sử dụng những đồ ăn này, nhất là người có nguy cơ. Những thức ăn có chứa acid béo không bão hòa rất cần thiết cho cơ thể như dầu vừng, dầu lạc, dầu cám, dầu ôliu, mỡ cá hồi, dầu đậu tương. Tích cực ăn nhiều rau xanh và hoa quả.

Tập luyện thể dục thường xuyên: Đây là một biện pháp quan trọng đốt cháy lượng calo dư thừa, nhất là những người thường xuyên ngồi làm việc tại chỗ.

Các hình thức thể thao như đi bộ, chạy bước nhỏ, đi xe đạp… ở mức độ không gắng sức có thể phù hợp với nhiều đối tượng. Thời gian tập mỗi lần phải từ 30- 45 phút, nên tập ít nhất 3lần/tuần.

Hạn chế sử dụng rượu, bia, cà phê, không hút thuốc lá: Những chất này làm gia tăng cholesterol có hại, làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đái tháo đường, không tốt cho gan mật, hệ thần kinh…

Biểu hiện của cholesterol máu cao

Cholesteron máu cao không gây ra triệu chứng. Xét nghiệm máu là cách duy nhất để phát hiện tình trạng này.

Xét nghiệm máu kiểm tra nồng độ cholesterol

– Cholesterol toàn phần: ≥ 240mg/dL .

– LDL cholesterol: ≥ 160mg/dL.

– HDL cholesterol: ≤ 40mg/dL.

– Triglycerides:≥ 200mg/dL

Để có kết quả chính xác, không nên ăn hoặc uống bất kỳ thứ gì (trừ nước) trong 9 – 12 tiếng trước khi lấy mẫu máu.

Hàm lượng cholesterol cao làm trẻ hay bị đỏ mặt

Có những trẻ khi bị trêu hoặc khi cảm thấy xấu hổ thì hay bị đỏ mặt nhưng những trẻ khác lại không? Thực ra đó là do các giác quan chi phối và đóng góp một phần không nhỏ tuỳ thuộc vào mức độ cholesterol ở mỗi trẻ.

Mức độ cholesterol cao (LDL>200) và các protein tập trung nhiều trong máu (tức là mật độ lipo-protein thấp hoặc LDL>130) sẽ tạo nên các mảng mỡ bám trong mạch máu gây xơ vữa động mạch, bệnh tim hoặc đột quỵ

Mức độ cholesterol cao ở trẻ có thể do di truyền, ăn nhiều thức ăn chứa chất béo bão hoà và cholesterol xấu hoặc trẻ bị béo phì.

Mỡ trong máu không chỉ có ở người già mà kể cả những người trưởng thành và trẻ nhỏ. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng xơ vữa động mạch có thể bắt đầu ngay khi bạn còn đang ở tuổi thơ ấu.

Vì vậy kiểm tra mức độ cholesterol/LDL ở trẻ và để điều trị mức độ LDL cao càng sớm càng tốt để tránh hậu quả sau này và ngăn cản sự phát triển của bệnh tim và xơ vữa động mạch.

Khi nào nên đưa trẻ đi khám?

Nói chung khoảng gần một nửa số trẻ có chỉ số cholesterol cao lúc nhỏ sẽ trở lại trạng thái bình thường khi trưởng thành.

Hầu hết điều trị bằng thuốc đều cho kết quả tốt, tuy nhiên đối với trẻ nhỏ không nên lạm dụng thuốc hoặc điều trị trong thời gian dài có thể gây rối loạn hoóc môn. Trẻ có thể phát triển sớm về tình cảm, dễ bị ảnh hưởng từ bạo lực, thuốc phiện và những tác nhân xấu ngoài xã hội.

Tốt nhất, bạn nên theo chỉ dẫn của bác sĩ, nếu trẻ chỉ bị chỉ số cholesterol cao hơn bình thường mà không có dấu hiệu bệnh nào khác thì cũng đừng nên lo lắng quá.

Để bảo vệ sức khoẻ con bạn

Cha mẹ không nên tạo gánh nặng, áp lực cho trẻ về bệnh tật của chúng, hãy để tinh thần trẻ được thoải mái. Nhưng cũng nên dạy cho trẻ biết những điều gì tốt cho sức khoẻ và những gì không nên làm.

Hãy điều chỉnh lượng thức ăn cung cấp hàng ngày cho trẻ, tránh ăn nhiều đường, mỡ động vật, thức ăn rán, thức ăn có chứa cholesterol xấu. Đồng thời tăng cường tập thể dục đều đặn hàng ngày và những trò chơi thể thao phù hợp với lứa tuổi của trẻ.

Ăn nhiều rau và hoa quả, hạn chế ăn những thức ăn ướp sẵn và món tráng miệng bằng đồ ngọt, cũng không nên cho trẻ uống nhiều nước ngọt nhất là nước ngọt có ga.

Không chỉ có trẻ mà thực sự tất cả các thành viên trong gia đình bạn nên giữ lối sống tốt cho sức khoẻ như lời khuyên ở trên để tránh bị mắc cholesterol cao. Điều đó cũng dễ dàng tạo cho trẻ thói quen và đạt hiệu quả hơn là bắt buộc trẻ phải thực hiện một mình.

Leave a Reply