Kiến thức phòng bệnh, chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe. Các thông tin về sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Các bài thuốc dân gian quý hiếm.
Thông tin sức khỏe

Viêm phế quản cấp và mạn tính – Nguyên nhân và cách điều trị đúng phương pháp

Share Button

Khi bị ho, sốt, có đờm, đau thắt ngực, hoặc khi bị ho khạc lâu ngày không khỏi, bạn cần phải nghĩ ngay tới bệnh viêm phế quản. Bệnh bao gồm 2 loại: cấp tính và mạn tính. Theo các bác sĩ hàng đầu về chuyên khoa hô hấp, bệnh viêm phế quản phổi cần được khám và điều trị sớm, đúng cách, nếu không sẽ có những biến chứng khó lường.

Viêm phế quản được chia thành 2 dạng là cấp tính (kéo dài ngắn hơn 6 tuần) và mạn tính (tái phát thường xuyên trong vòng hơn 2 năm). Ngoài ra, ở những bệnh nhân bị hen phế quản thì niêm mạc phế quản cũng có thể bị viêm và gây nên tình trạng gọi là viêm phế quản dạng hen.

Viêm phế quản cấp tính

Thường gặp ở cả người lớn và trẻ em, là tình trạng nhiễm khuẩn nhanh & ngắn hạn ở các phế quản và thỉnh thoảng có kèm nhiễm khuẩn đường hô hấp trên.

Triệu chứng viêm phế quản cấp tính

Bao gồm các triệu chứng ho liên tục, có đờm, thường xuất hiện từ 24-48 giờ sau khi ho; sốt cao, lạnh run; đau hay cảm giác thắt ngực, đau dưới xương ức khó thở, thở ngắn. Hầu hết viêm phế quản cấp có nguyên nhân ban đầu do virus (đôi khi còn do vi khuẩn) tấn công vào lớp niêm mạc của phế quản. Những triệu chứng như sưng, tăng tiết dịch gây ra khó thở, thở khò khè là do cơ thể phản ứng chống lại sự nhiễm khuẩn.

bệnh viêm phế quản cấp và mạn tính 1

Nguyên nhân gây ra viêm phế quản cấp

Viêm phế quản cấp thường xảy ra do nguyên nhân siêu vi (virus) tấn công vào lớp niêm mạc của phế quản. Những triệu chứng như sưng, tiết dịch là hậu quả của những phản ứng của cơ thể chống lại sự nhiễm khuẩn. Cần phải có thời gian để cơ thể giết chết siêu vi & làm lành các tổn thương ở phế quản.

Trong hầu hết các trường hợp, các virus thường gây ra cảm cúm cũng là nguyên nhân gây ra viêm phế quản. Những nhà nghiên cứu cho biết các viêm phế quản gây ra bởi vi khuẩn ít hơn nhiều so với những gì chúng ta nghĩ trước đây. Rất hiếm khi viêm phế quản cấp gây ra do nấm.

Bạn bị viêm phế quản như thế nào?

Virus gây ra viêm phế quản cấp bay lơ lững trong không khí hay dính vào tay của người đã bị nhiễm, …, khi họ ho. Bạn có thể bị viêm phế quản cấp khi tiếp xúc với các virus (hít, tiếp xúc da trực tiếp với virus, …).

Nếu Bạn có hút thuốc hay môi trường xung quanh nhiều bụi bậm thì Bạn dễ bị viêm phế quản cấp hơn và bị kéo dài hơn. Điều này có thể do các phế quản đã bị tổn thương trước đó và nhiễm siêu vi lần này chỉ là nguyên nhân để bùng phát cơn viêm phế quản cấp.

Điều trị viêm phế quản cấp tính:

Hầu hết các trường hợp viêm phế quản cấp đều tự khỏi sau vài ngày hoặc một tuần. Do hầu hết các viêm phế quản đều có nguyên nhân virus nên các kháng sinh không có vai trò điều trị ở đây. Ngay cả khi ho có đàm đặc & có màu đi chăng nữa, kháng sinh hầu như cũng không có tác dụng cải thiện bệnh nếu như nguyên nhân là virus.

Nếu Bạn hút thuốc, hãy ngưng thuốc lá hoặc chí ít là giảm thiểu lượng thuốc hít trong thời gian hồi phục viêm phế quản cấp.

Ở một số trường hợp, BS có thể kê toa các thuốc thường thấy trong điều trị hen suyển nhằm mục đích làm sạch đờm nhớt trong phế quản.

Thuốc trị viêm phế quản

Điều trị các ổ nhiễm khuẩn ở mũi, họng, xoang bằng kháng sinh.

Bệnh nhân sốt: paracetamol 0,5g x 1 – 2 viên /ngày.

Ho: dùng Tecpin codein 0,1g x 2-4 viên /ngày. Tuy nhiên không dùng cho những bệnh nhân có suy hô hấp và những bệnh nhân viêm phế quản có biểu hiện tâm phế mạn.

Đau ngực: dùng Efferalgan codein 500mg x 2 viên /ngày x 5 ngày.

Đối với viêm phế quản mạn đơn thuần (chưa có tắc nghẽn phế quản), chỉ cần điều trị dự phòng:

Thể dục liệu pháp, tập thở sâu (thở cơ hoành).

Vận động trị liệu: tập bơi, đi bộ.

Giữ ấm cổ, ngực khi trời lạnh, tránh lạnh đột ngột.

Điều trị ổ nhiễm khuẩn đường hô hấp.

Điều trị đợt cấp (khi đã có tắc nghẽn).

Cho thở oxy khi có biểu hiện suy hô hấp (cho thở ngắt quãng, nhiều lần trong ngày, liều thấp).

Dẫn lưu theo tư thế kết hợp với vật lý trị liệu (gõ, vỗ, rung lắc) lồng ngực để làm long đờm và dẫn lưu đàm ra ngoài. Vỗ nhẹ nhàng vào lồng ngực ít nhất 30 phút một ngày.

Sử dụng các thuốc làm loãng đờm, long đờm: Bilsovon 8mg x 2viên/ngày x 5 ngày hoặc Exomuc 200mg/gói x 2 gói /ngày x 5 ngày.

Dùng corticoid liều nhẹ để chống phù nề niêm mạc phế quản: prednisolon 5mg x 4 viên /ngày x 5 ngày, sau đó prednisolon 5mg x 2 viên /ngày x 5 ngày rồi ngừng.

Sử dụng các thuốc giãn phế quản để chống co thắt cơ trơn phế quản:

Theophyllin 0, 10 x 4 viên/ngày x 7 ngày hoặc Diaphyllin 4,8% x 2 ống, mỗi ống hòa với 10ml glucose 5% tiêm tĩnh mạch chậm 5-10 phút, sáng và chiều.

Dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ, có thể dùng penicillin, ampicillin hoặc erythromycin, bactrim. Nếu chưa có kháng sinh đồ thì dùng những loại kháng sinh không dị ứng niêm mạc phế quản như ofloxacin 200mg x 2 viên /ngày x 5 ngày.

bệnh viêm phế quản cấp và mạn tính 2

Triệu chứng ho trong viêm phế quản cấp kéo dài bao lâu?

Ho trong viêm phế quản cấp có thể kéo dài nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng. Ho kéo dài là do các phế quản chưa lành lặn. Tuy nhiên ho có thể là triệu chứng của bệnh lý khác như suyển hoặc viêm phổi.

Nên đi BS trong các trường hợp sau:

Ho, khò khè kéo dài hơn một tháng, đặc biệt nhiều hơn khi ngủ hay khi vận động nhiều

Ho hơn một tháng và ho khạc ra dịch đàm hôi.

Ho, mệt, sốt cao liên tục

Ho ra máu

Khó thở khi nằm

Sưng phù chân

Thời gian điều trị viêm phế quản cấp kéo dài bao lâu?

Tất cả các bệnh nhân viêm phế quản cấp được điều trị khỏi sau 5-10 ngày. Hầu hết những trường hợp không được điều trị hiệu quả sau 10 ngày thường không phải viêm phế quản cấp, hoặc viêm phế quản cấp nhưng có kèm theo bệnh mạn tính khác.

Tất cả các bệnh nhân viêm phế quản cấp đều có diễn biến lâm sàng tốt nhanh sau 5-10 ngày điều trị, những triệu chứng có thể còn sau 10 ngày điều trị thông thường chỉ là ho khan thúng thắng và sẽ hết dần trong những ngày sau đó.

Những trường hợp sau điều trị 10 ngày mà bệnh không thuyên giảm (vẫn còn sốt, khạc đờm, ho cơn nhiều, thậm chí có khó thở, đau ngực…) đều cần được khám, làm thêm các xét nghiệm, thăm dò để tìm nguyên nhân. Các nguyên nhân thường gặp bao gồm:

1. Viêm phế quản cấp trên bệnh nhân có bệnh phổi mạn tính từ trước như:

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản, giãn phế quản … : thông thường những trường hợp này được chẩn đoán là đợt cấp do bội nhiễm của những bệnh lý nêu trên, khi đó thời gian điều trị có thể sẽ kéo dài hơn. Những triệu chứng của bệnh nhân còn tồn tại dài ngày một phần là triệu chứng của bệnh phổi mạn tính.

2. Bệnh nhân có kèm viêm mũi, viêm xoang hoặc viêm mũi xoang

3. Vi khuẩn gây bệnh đã kháng thuốc hiện đang dùng điều trị cho bệnh nhân

4. Không phải viêm phế quản cấp

Các triệu chứng ho, khạc đờm, sốt có thể gặp trong rất nhiều bệnh lý như: lao phổi, lao nội phế quản, tràn dịch màng phổi, tràn mủ màng phổi, ung thư phổi…

Việc chưa có chẩn đoán đúng, do vậy điều trị thường chưa phù hợp, do vậy các triệu chứng của bệnh nhân không thuyên giảm.

Nhìn chung, tất cả những trường hợp không tiến triển sau điều trị đều cần được tiến hành xét nghiệm đờm tìm vi khuẩn lao, nhuộm soi, cấy, khi phát hiện được vi khuẩn gây bệnh cần tiến hành làm kháng sinh đồ. Tùy theo từng trường hợp có thể cần chụp X quang ngực, chụp cắt lớp vi tính ngực, nội soi phế quản ….

Làm gì để tránh bị tái nhiễm viêm phế quản cấp?

Nếu Bạn hút thuốc thì đây là một lý do để bỏ thuốc. Hút thuốc gây ra tổn thương các cấu trúc phế quản và virus dễ dàng tấn công gây bệnh và làm cho vết thương ở phế quản lâu lành. Ngoài ra thường xuyên rửa tay để loại bỏ virus dính trên tay trong sinh hoạt hàng ngày.

Viêm phế quản mạn tính

-Theo Hội thảo quốc tế tại Anh 1965, viêm phế quản mạn là ho khạc lâu ngày, ít nhất là 90 ngày trong một năm và đã kéo dài 2 năm liên tục, sau khi loại trừ các nguyên nhân khác (lao, apxe, giãn phế quản…)

– Có 3 loại chính: thể đơn thuần ho khạc đờm nhày; thể đờm mủ (hay mắc đi mắc lại); và thể khó thở.

Nguyên nhân chủ yếu là sự xâm nhập của vi khuẩn và sự suy giảm khả năng đề kháng của cơ thể

Yếu tố thuận lợi làm suy giảm sức chống đỡ của niêm mạc là khói thuốc lá và không khí ô nhiễm

Triệu chứng viêm phế quản mạn tính thay đổi khác nhau tùy từng giai đoạn:

– Mới bắt đầu là ho và khạc đờm: Ho xảy ra nhiều trong một năm, từng đợt, dễ xuất hiện khi trời lạnh hoặc thay đổi thời tiết, có thể ho khan nhưng thường ho có đờm màu trắng và có bọt. Khi ho lâu ngày, đờm đặc hơn, màu vàng và có mủ, khối lượng đờm hằng ngày ít nhất 5-10ml (đầy một đáy bao diêm) về sau tăng nhiều hơn. Khi tiến triển lâu ngày, thêm biến chứng giãn phế quản hoặc apxe hoá, khối lượng đờm có thể hàng chén. Các đợt ho đờm thường xảy ra lặp đi lặp lại, ban đầu 4-5 lần một năm, mỗi lần 10-15 ngày, về sau thường xuyên và kéo dài hơn.

– Khó thở là một triệu chứng quan trọng, xảy ra ở giai đoạn muộn hơn. Lúc đầu chỉ là cảm giác “trống hơi” nặng nề như bị đè nén trong ngực, dần dần bệnh nhân cảm thấy thiếu không khí thực sự.

– Ngoài ra còn có một số triệu chứng khác, tuy không thường xuyên như gầy sút, xanh xao, buồn ngủ lơ mơ suốt ngày, tim đập nhanh…

bệnh viêm phế quản cấp và mạn tính 3

Các thể viêm phế quản mạn tính thường gặp

Chẩn đoán viêm phế quản mạn tính dựa vào triệu chứng ho khạc đờm từng đợt hoặc thường xuyên 3 tháng trong 1 năm và sau 2 năm liên tục. Viêm phế quản mạn tính được chia làm 3 thể lâm sàng:

Viêm phế quản mạn tính đơn thuần: người bệnh chỉ ho khạc đờm. Buổi sáng ho nhiều hơn. Đờm nhày trong dính, vàng đục khi có bội nhiễm và ho thường tăng vào mùa thu, mùa đông.

Viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn: người bệnh khó thở và khò khè do phế quản bị tắc nghẽn bởi niêm mạc phế quản dày, tăng tiết.

Viêm phế quản mạn tính nhày mủ: Người bệnh khạc đờm nhày mủ từng đợt do bội nhiễm hoặc liên tục. Người cao tuổi dễ mắc thể co thắt và các đợt kịch phát.

Như vậy, dựa vào lâm sàng cũng đã có thể chẩn đoán được viêm phế quản mạn tính, tuy nhiên, để khẳng định hơn nữa và để phát hiện các bệnh khác cũng có triệu chứng ho khạc đờm kéo dài như: lao phổi, giãn phế quản, hen phế quản, ung thư phế quản…, cần chụp lồng ngực.

Trên phim lồng ngực có thể phát hiện được 3 hội chứng: Hội chứng phế quản: thành phế quản dày, hình ảnh đường ray; Hội chứng phế nang: tăng sáng; Hội chứng mạch máu: mạch máu ở trung tâm to, ở ngoại vi thưa thớt.

Chụp CT lồng ngực độ phân giải cao phát hiện các tổn thương nói trên rõ hơn, chính xác hơn.

Điều trị viêm phế quản mạn tính

Về nguyên tắc, điều trị viêm phế quản mạn tính cần đạt được 3 mục tiêu: chống nhiễm khuẩn mới; phục hồi lưu thông không khí; chống nguy cơ suy hô hấp.

Không nên tự ý mua thuốc ho khi chưa được bác sĩ hướng dẫn. Khi có nhiễm trùng hô hấp, bác sĩ có thể cho dùng kháng sinh phổ rộng từ 5 – 10 ngày để điều trị nhiễm trùng. Nếu bệnh nhân bị kèm bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) thì bác sĩ có thể kê đơn thuốc giãn phế quản kháng hệ thống cholinergic. Đây là những thuốc giúp làm giãn tạm thời các phể quản bị hẹp trong phổi. Ngoài ra cũng có thể sử dụng thuốc nhóm steroid để làm giảm hiện tượng viêm trong các phế quản. Tuy nhiên biện pháp điều trị quan trọng nhất và thành công nhất cho bệnh viêm phế quản mạn tính và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là ngưng hút thuốc.

Trong trường hợp viêm phế quản mạn tính có kèm bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nặng, thì cơ thể bị suy giảm về khả năng vận chuyển oxy từ phổi vào máu. Do đó bác sĩ có thể cho bệnh nhân thở oxy liên tục hoặc tùy theo nhu cầu. Những thiết bị cung cấp oxy hiện nay đang được phổ biến một cách rộng rãi. Nếu sử dụng bình oxy tại nhà thì phải đặc biệt chú ý không được đặt thiết bị gần những chất dễ cháy nổ như rượu, xăng, các loại bình xịt… hoặc gần những nguồn nhiệt như bếp, máy sấy tóc, lò sưởi…

Nếu bệnh nhân bị VPQ mạn tính thì sẽ có nguy cơ khởi phát các bệnh lý về tim mạch cũng như những bệnh lý nặng nề về hô hấp và nhiễm trùng. Do đó bệnh nhân cần được bác sĩ theo dõi chặt chẽ.

Phòng bệnh thế nào?

Phòng bệnh ở 3 cấp độ: dự phòng căn nguyên, loại trừ các yếu tố gây bệnh (dự phòng cơ bản); dự phòng “chậm trễ”: phát hiện kịp thời, điều trị đúng lúc; dự phòng “tàn phế”: tích cực điều trị dù đã muộn, hạn chế tàn phế, đẩy lùi tử vong. Các biện pháp cơ bản là:

– Không hút thuốc và loại bỏ các nguyên nhân gây ô nhiễm không khí (khói, bụi, không khí bẩn) trong gia đình cũng như nơi làm việc.

– Điều trị triệt để các ổ viêm nhiễm mạn tính vùng mũi họng.

– Giảm uống rượu.

– Phòng các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính cho trẻ em.

-Điều trị sớm và triệt để các viêm nhiễm cấp tính đường hô hấp. Viêm đường hô hấp trên dễ dẫn đến viêm phế quản.

Xem thêm các bài viết khác thuộc chủ đề: bệnh viêm phế quản
Leave a Reply